Để chữa chứng đau đầu kèm theo hoa mắt, chóng mặt, ù tai, có thể lấy não lợn 1 bộ, thiên ma 10-30 g (thái lát) hầm nhỏ lửa thành dạng canh rồi bỏ bã, uống vài lần trong ngày. Cũng có thể lấy não dê 1 bộ, rửa sạch huyết rồi hầm trong 30 phút, thêm gia vị ăn trong ngày. Theo y học cổ truyền, não động vật không chỉ là thực phẩm mà còn là vị thuốc chữa các bệnh lý có liên quan đến não và hệ thống thần kinh. Từ việc dùng não lợn, trâu, bò, dê, gà... làm thuốc dưới dạng các món ăn, trong y học đã hình thành một phương pháp chữa bệnh độc đáo gọi là "dĩ não liệu bệnh pháp". Sau đây là một số bài thuốc từ não động vật: Bài 1: Chữa phong huyễn não minh (Tây y gọi là thiểu năng tuần hoàn não, rối loạn tiền đình). Triệu chứng: Hoa mắt, chóng mặt, kèm theo có những âm thanh bất thường trong đầu như tiếng ve kêu, tiếng xay lúa. Não lợn 1 bộ, dùng nước sôi để nguội rửa sạch huyết, đem hầm kỹ trong 30 phút rồi ăn trong ngày, một liệu trình kéo dài 7 ngày. Hoặc: Não lợn 100 g, hành 20 g, gừng tươi 10 g, rượu vang 10 g, dầu vừng 10 g, tỏi 20 g, xì dầu 15 g. Não lợn rửa sạch và loại bỏ gân máu, hành thái đoạn, gừng và tỏi giã nát. Đặt não lợn lên một cái đĩa cùng gừng và hành, vẩy rượu vang lên trên rồi đem hấp cách thủy chừng 30 phút, sau đó chế thêm dầu vừng, tỏi, xì dầu, trộn đều, ăn trong ngày. Bài 2: Chữa hội chứng suy nhược thần kinh. Não lợn 1 bộ, trứng gà 1-2 quả. Não lợn rửa sạch huyết, loại bỏ gân máu, đánh đều với trứng gà rồi tráng chín ăn trong ngày. Hoặc: Não lợn một bộ, nhục dung 12 g, thỏ ty tử 12 g, thục địa 12 g, kỷ tử 15 g. Các vị thuốc sắc kỹ, bỏ bã, lấy nước rồi cho não lợn vào đun chín, chế thêm gia vị, ăn trong ngày. Bài 3: Chữa di chứng chấn thương sọ não. Não lợn 1 bộ, thiên ma 9 g (thái lát), kỷ tử 15 g. Não lợn rửa sạch huyết, loại bỏ gân máu, hấp cách thủy cùng thiên ma và kỷ tử, chế thêm gia vị ăn trong ngày. Hoặc: Não lợn 1 bộ, thiên ma 10 g, gạo tẻ 250 g, đem gạo và thiên ma nấu thành cháo rồi cho não lợn vào đun chín, chế thêm gia vị, chia ăn vài lần trong ngày. Bài 4: Chữa rối loạn thần kinh chức năng. Não lợn 1 bộ, mộc nhĩ đen 15 g. Não lợn rửa sạch huyết, loại bỏ gân máu. Mộc nhĩ ngâm nước lạnh 15 phút rồi rửa sạch, cho vào chảo xào trong 30 phút với 1 thìa dầu thực vật. Cho thêm một thìa rượu vang, muối, gia vị vừa đủ và một chút nước đun sôi. Sau đó cho não lợn vào, chế thêm một bát nước nhỏ rồi đun nhỏ lửa trong 40 phút nữa. Khi ăn, có thể cho thêm hạt tiêu và các gia vị khác. Bài 5: Chữa rối loạn tiền đình do tổn thương tai trong Não lợn 1 bộ, rửa sạch huyết, loại bỏ gân máu; đông trùng hạ thảo 10 g rửa sạch, để ráo nước. Hai thứ đặt lên đĩa, cho thêm một thìa rượu vang, 2 thìa nước lạnh và một chút muối ăn rồi hấp cách thủy, ăn trong ngày. Hoặc: Não lợn 1 bộ, tiểu mạch 30 g, đại táo 1 quả. Cho tiểu mạch vào 2 bát nước to, sắc kỹ bằng tiểu mạch bằng lửa nhỏ trong nửa giờ rồi bỏ bã, lấy nước. Cho đại táo và não lợn (đã ngâm kỹ bằng nước ấm) vào cùng với 2 thìa đường trắng, nửa thìa rượu vang, hầm kỹ trong 30-60 phút là được. Chia ăn 2 lần trong ngày. Bài 6: Chữa chứng chậm phát triển trí tuệ của trẻ em, làm tăng trí nhớ và khả năng hoạt động của não bộ. Não dê 1 bộ, kỷ tử 50 g. Não dê rửa sạch, hấp cách thủy cùng kỷ tử rồi chế thêm gia vị ăn trong ngày. Hoặc: Não lợn 1 bộ rửa sạch huyết, loại bỏ gân máu, hoài sơn 15 g, kỷ tử 15 g. Tất cả đem hấp cách thủy rồi chế thêm gia vị, ăn trong ngày. Lưu ý: Các loại não động vật có tác dụng tương tự như nhau, tùy theo điều kiện có thể linh hoạt sử dụng. ThS Hoàng Khánh Toàn, SK&ĐS
Đăng Kí Nhận Bài
Click Here
Video Clips
Người Theo Dõi
Bài Đăng Phổ Biến
-
(Dân trí) - Thức ăn là thuốc, nếu biết điều hoà việc ăn uống phù hợp với với qui luật âm dương ngũ hành sẽ giúp cơ thể phòng và chữa được ...
Lưu Trữ
-
▼
2011
(12)
-
▼
tháng 4
(11)
- Một số món ăn bài thuốc từ đậu phụ
- Một số món ăn - bài thuốc từ củ cải
- Món ăn bài thuốc cho người mắc bệnh đường tiết niệu
- Món ăn bài thuốc cho người bị táo bón mạn tính
- Món ăn bài thuốc cho người béo phì
- Các món ăn bài thuốc từ não động vật
- Các món ăn bài thuốc dành cho phụ nữ
- Các món ăn bài thuốc cho đàn ông vô sinh
- Tác dụng chữa bệnh của một số thực phẩm
- Thức ăn chữa bệnh gan
- Chữa bệnh bằng thức ăn
-
▼
tháng 4
(11)
Lượng Truy Cập
Để chữa bế kinh sau khi sinh, có thể dùng củ sen (thái mỏng) 250 g, đào nhân 10 g rửa sạch, thêm nước vừa đủ, đun nhỏ lửa cho đến khi củ sen chín, nêm gia vị cho vừa ăn. Củ sen có tác dụng thanh nhiệt, mát máu, làm tan máu bầm. Đào nhân có khả năng hoạt huyết, thông kinh, khử bầm, giảm đau. Sau đây là một số món ăn - bài thuốc cổ truyền đơn giản mà bạn có thể tham khảo: Bài 1: Táo đỏ 10 quả (bỏ hạt), củ sen 250 g (thái mỏng), xương lợn 500 g (chặt miếng nhỏ), lạc 100 g. Tất cả rửa sạch, cho vào nồi (tốt nhất là nồi đất), đổ ngập nước, đun to lửa cho sôi. Sau đó đun nhỏ lửa khoảng 3 giờ (nhớ thêm nước cho đủ), thêm gia vị cho vừa ăn. Công dụng: Chữa trị kinh nguyệt kéo dài, lượng kinh quá nhiều, kinh màu đỏ, nhạt và loãng. Thuốc cũng có hiệu quả cao đối với người khi hành kinh kéo dài kèm chảy máu cam, nôn ra máu, chảy máu chân răng, xuất huyết dưới da. Bài 2: Dùng cho phụ nữ thời kỳ tiền mãn kinh. Hà thủ ô (đã chế) 20 g, huỳnh kỳ 15 g, táo đỏ 10 quả, gà ác (thịt đen) 200 g. Huỳnh kỳ, hà thủ ô rửa sạch, cho vào túi vải mỏng, buộc chặt miệng lại; táo đỏ rửa sạch, bỏ hạt; gà ác làm sạch, chặt miếng nhỏ. Cho tất cả vào nồi đất, cho nước vừa đủ, đun to lửa cho mau sôi rồi giảm lửa nhỏ, đun tiếp khoảng 2 giờ cho nhừ. Vớt túi thuốc ra, nêm gia vị cho vừa ăn. Công dụng: Bổ khí huyết, tư bổ can thận, chữa khí huyết hư nhược, can thận suy kém, chóng mặt, ù tai, đổ mồ hôi, tim hồi hộp, mất ngủ, sợ hãi, suy nhược. Bài 3: Đương quy 15 g, huỳnh kỳ 35 g, gà ác 500 g. Gà ác làm sạch, bỏ bộ đồ lòng; đương quy, huỳnh kỳ rửa sạch. Bỏ tất cả vào nồi đất, đổ nước xâm xấp, nấu lửa lớn cho sôi, sau đó giảm lửa cho nhỏ, hầm nhừ, nêm gia vị vừa ăn. Công dụng: Điều khí, bổ huyết, bổ thận, điều kinh. Bài 4: Bạch tuộc (mực đầu tròn) 100 g, lạc 60 g, thịt gà 250 g, rượu nếp 100 g. Bạch tuộc làm sạch, ngâm trong nước cho mềm; lạc rửa sạch; thịt gà rửa sạch, chặt miếng nhỏ. Cho tất cả vào nồi đất, đổ nước vừa đủ, nấu lửa lớn cho mau sôi, sau đó để lửa riu riu cho mềm, nêm gia vị vừa ăn. Lúc dùng, thêm một ít rượu nếp vào canh, ăn cả cái lẫn nước. Công dụng: Thông sữa, dưỡng huyết. BS Đỗ Văn Sơn, Sức Khỏe & Đời Sống
Gà trống 1 con, cẩu khởi tử 20 g, hoàng tinh 20 g. Gà làm thịt, moi ruột, rửa sạch, cho 2 vị thuốc vào hầm nhừ để ăn. Món ăn bài thuốc này thích hợp với bệnh nhân vô sinh có các triệu chứng: thắt lưng, đầu gối mỏi nhừ; miệng khô; hoa mắt, chóng mặt. Đàn ông được coi là vô sinh nếu không có khả năng sinh con sau 3 năm quan hệ với vợ không dùng biện pháp tranh thai, đồng thời bộ máy sinh sản của người vợ không có vấn đề gì. Họ có thể dùng một trong các món ăn bài thuốc sau: - Thịt chó 250 g, tiên mao, tiên linh tì mỗi thứ 15 g, nấu chín nhừ để ăn. Thích hợp với những bệnh nhân thắt lưng đau mỏi nhừ, chân tay lạnh giá, công năng tình dục suy giảm. - Thịt dê 100 g, gạo tẻ 50 g. Thịt rửa sạch, thái nhỏ, cho vào nấu cháo với gạo tẻ để ăn. Món ăn này dành cho những bệnh nhân thắt lưng mỏi nhừ, ít tinh trùng, liệt dương, xuất tinh sớm. - Tôm nõn 250 g, rau hẹ 100 g. Cho tôm đã rửa sạch vào rán, sau đó cho hẹ vào xào chín để ăn. Thích hợp với bệnh nhân vô sinh nói chung. - Gan lợn 100 g, rau chân vịt 50 g đem xào chín để ăn. Thích hợp với bệnh nhân tinh trùng ít hoặc sức hoạt động của tinh trùng yếu. - Ba ba 1 con mổ thịt, rửa sạch, nấu lên ăn. Thích dụng với những người lòng bàn tay, lòng bàn chân và vùng mỏ ác lạnh, di tinh, xuất tinh sớm, thắt lưng mỏi nhừ. - Trứng chim sẻ 4 quả, đánh lẫn với thịt của 5 quả long nhãn, nấu chín lên ăn, mỗi ngày 3 lần. Thích hợp với các bệnh nhân vô sinh nói chung. - Dương vật bò 25 g, dương khởi thạch (một loại khoáng chất) 25 g, bột hạt dẻ 25 g, gạo tẻ 100 g. Nấu dương khởi thạch lấy nước, dùng nước đó nấu cháo với dương vật bò để ăn, ngày 2 lần. Thích hợp với bệnh nhân liệt dương, không xuất tinh, tinh trùng ít và yếu. BS Nông Thúy Ngọc, Nông Nghiệp Việt Nam
Sau đây là tác dụng chữa bệnh của 3 loại thức ăn khác: 1. Ăn rau xanh chữa bệnh về mắt và viêm khớp Rau xanh bổ sung các chất chống ôxy hóa, chống lại các tác nhân xâm hại vào mắt. Một nghiên cứu gần đây cũng cho thấy, rau xanh còn có khả năng ngăn chặn bệnh viêm khớp. Ở những người thích ăn rau xanh, nguy cơ mắc bệnh viêm khớp khi về già chỉ bằng 1/4 so với những người không thích ăn thực phẩm này. 2. Ăn cá chữa bệnh khó thở Những nghiên cứu mới nhất cho thấy, cá không chỉ cung cấp vitamin cho cơ thể mà còn có tác dụng bổ phổi, giúp phòng chống bệnh khó thở. Vì vậy, theo các chuyên gia y tế, những người mắc bệnh khó thở nặng nên ăn nhiều cá, đặc biệt là các loại cá biển tươi sống. Ngoài ra, rau xà lách xoăn cũng có tác dụng tương tự. 3. Mỗi ngày uống một vại bia để ngăn ngừa bệnh tim Ngoài tác dụng làm đẹp da, kích thích tiêu hóa, bia còn có công hiệu giảm khả năng mắc bệnh tim. Tuy nhiên, để bia thực sự là thuốc chữa bệnh, mỗi ngày bạn chỉ nên uống một vại. (Theo Nông Nghiệp Việt Nam)Một nghiên cứu mới đây cho thấy, quất có tác dụng phòng chống cao huyết áp. Vì vậy, những người bị cao huyết áp hoặc có nguy cơ mắc chứng này cần tạo cho mình thói quen uống nước quất. Ngoài ra, quất còn được dân gian sử dụng để chữa ho.
Thực đơn thông thái có thể chữa các loại bệnh gan như: Vàng da, Xơ gan, Viêm gan do virus. Công thức 1: Cá chạch 100g, đậu phụ hai miếng. Chạch rửa sạch nhớt, mổ bỏ ruột, cắt thành khúc, đậu phụ thái lát cho thêm muối gừng vào cả hai vị, nấu chín ăn. Chữa vàng da do thấp nhiệt. Công thức 2: Dây dưa chuột (một cây), trứng gà (một quả). Sắc dây dưa chuột trước bằng hai bát nước, còn một bát. Sau đó đập trứng gà vào đánh đều, đổ vào ăn canh. Công thức 3: Thịt lợn nạc (60 g), cỏ gà (30g), táo đỏ (4 quả). Thịt lợn nạc rửa sạch, thái miếng, cho vào cùng với cỏ gà, táo đỏ nấu chín, ăn thịt gà và uống hết nước. Công thức 4: Đậu xanh (30g), đậu đỏ (30g). Rửa sạch cho vào nồi, nấu lên thành canh cho đường trắng vào pha, uống nước thay trà. Xơ gan Công thức 1: Dạ dày lợn (một chiếc), cóc (một con). Cóc làm sạch, mổ bỏ nội tạng, lột bỏ da vào trong dạ dày lợn đã làm sạch lấy dây buộc chặt lại. Khi nấu đun nhỏ lửa, chín thì ăn dạ dày và uống canh, chia làm 4 - 6 lần ăn cho hết. Công thức 2: Đậu xanh (50g), mật lợn (4 cái). Đậu xanh rang, nghiền bột, sau đó cho nước mật lợn vào trộn, viên lại thành viên to bằng hạt đỗ. Mỗi lần ăn từ 6 - 9 gam. Công thức 3: Thịt lợn nạc (250g), thương lục (10g). Thịt lợn rửa sạch, thái miếng, cho cùng với thương lục vào nồi, đổ nước vào nấu, uống nước. Có thể ăn cả thịt lợn. Viêm gan do virus Công thức 1: Cá chạch (hai kg). Trước tiên cho chạch thả vào chậu nước sạch một ngày, sau đó đem hấp chín, sấy khô, tán thành bột, cho vào lọ dùng dần. Mỗi lần ăn ba lần ăn 10 gam, ăn với nước sôi để nguội. Công thức 2: Dấm (một lít), xương sống lợn tươi (500 gam), đường đỏ (125 g), đường trắng (125 g). Đập nát xương sống ra, trộn đường, dấm cho vào nồi đất, không cho nước, nấu sôi 30 phút, để nguội dùng vải màn sạch vắt nước để dùng dần. Người lớn mỗi lần 30 - 40ml, mỗi ngày ba lần uống, sau khi ăn cơm. Công thức 3: Rau cần tươi (150 gam), mật ong (50ml). Rau cần rửa sạch giã nát lấy nước, sau đó đổ mật ong vào, cho vào nấu cách thủy 20 phút sau là có thể dùng được. Công thức 4: Gan lợn (250g), cỏ gà (150g). Gan lợn rửa sạch, cho cả cỏ gà vào nồi nấu chín, bỏ bã cỏ, ăn gan lợn và uống hết nước, chia làm 2 - 3 lần ăn cho hết. Mỗi ngày ăn hai lần vào buổi sáng và tối. Công thức 5: Táo đỏ (50g), lạc (50g), đường trắng (30g). Táo bỏ hạt, lạc bỏ vỏ, trước tiên nấu lạc cho nhừ, sau đó cho táo đỏ, cuối cùng mới cho đường vào, ăn trước khi đi ngủ, mỗi ngày một lần. Công thức 6: Ốc đồng (250g), cỏ gà (15g). Ốc nuôi trong nước sạch hai ngày, sau đó rửa sạch, cho vào nồi cùng với cỏ gà nấu lấy nước uống chữa viêm gan mãn tính. Công thức 7: Gà mái (một con), vừng đen (90 g), trần bì (5 g). Gà làm thịt, bỏ nội tạng, rửa sạch, vừng, trần bì cho vào bụng con gà, ninh chín chia làm vài lần ăn, bài này chữa viêm gan mãn tính. Vũ Quốc Trung
Vàng da Đậu xanh, một vị thuốc chữa bệnh vàng da. Ảnh: wikimedia
Theo quan niệm của y học phương Đông, bệnh tòng khẩu nhập, nghĩa là bệnh từ miệng mà vào, nếu ăn uống không điều độ sẽ phát sinh bệnh tật. Ăn ít, hoặc ăn không đủ vị làm cho cơ thể hao mòn, thể trạng xanh xao gầy yếu. Ăn quá nhiều, khẩu phần ăn mất cân đối thường làm hao tổn tâm vị, trường vị và làm hại đến can, cơ thể mất tinh hoa, khí huyết kém lưu thông, gây ứ trệ, bệnh tật từ đó mà phát sinh. Dưới đây là một vài cách trị bệnh bằng việc ăn uống. 1. Người có thể trạng âm hư biểu hiện tính tình u uất, hay nổi nóng, hay cáu gắt, ban ngày cảm thấy lạnh lẽo, ban đêm cảm thấy bức bối và khó thở, lòng bàn tay bàn chân nóng, gò má ửng đỏ, hay nằm sấp, chân tay co quắp, ngại vận động. Người như vậy nên ăn nhiều các món ăn bổ âm như: lê, dâu, mía, mộc nhĩ, vừng đen, lạc, rau chân vịt, mật ong, hải sâm, ba ba.... 2. Ăn uống thanh đạm nhưng phải đủ chất và thay đổi thức ăn thường xuyên. Nên ăn nhiều rau quả, nhiều loại đậu đỗ, cá, thịt nạc, dầu thực vật. Không nên ăn mỡ động vật. Ăn đúng bữa, không để đói quá mới ăn, không ăn khi còn đang no bụng, không ăn quá no. 3. Người có thể trạng dương hư biểu hiện da lạnh, chân tay lạnh, gân cốt lỏng lẻo, khó thở ra, khó cúi xuống, thích yên lặng. Người như vậy nên ăn nhiều các món ăn bổ dương như: Táo, hạt sen, gạo nếp, gà, thịt bò, dạ dày bò, dạ dày dê, rùa, cá diếc, lươn... 4. Khi ăn, thức ăn qua miệng vào trong trường vị, hoả ở mệnh môn chưng nấu làm cho thức ăn nhừ nát, khí bổ của thức ăn bốc lên phế sinh ra thủy rồi đến tâm để từ đó lại toả đi nuôi dưỡng khắp các tạng trong cơ thể. 5. Thức ăn có 5 vị. Vị đắng thuộc về hoả sẽ đi vào tâm, vị chua thuộc về mộc sẽ đi vào can, vị ngọt thuộc về thổ sẽ đi vào tỳ, vị cay thuộc kim sẽ đi vào phế, vị mặn thuộc thủy đi vào thận. Ắn chua quá thì tỳ khí bị diệt, ăn mặn quá thì tâm khí bị ức nén, ăn ngọt quá thì phế khí bị suyễn gấp, ăn đắng quá thì tỳ khí bị khô táo, ăn cay quá thì hại về thần chí. 6. Màu thức ăn cũng có tác dụng riêng cho từng tạng. Màu đỏ thuộc hoả nên bổ tâm và tiểu trường, màu xanh thuộc mộc nên bổ can và đởm, màu vàng thuộc thổ nên bổ tỳ và vị, màu trắng thuộc kim nên bổ phế và đại trường, màu đen thuộc thủy nên bổ thận và bàng quang. BS Trần Văn Phúc
(Bệnh viện Xanh Pôn)
Đọc tiếp →
Chống mất nước, giữ ấm người và bảo vệ khí hoá của Tỳ Vị là những yêu cầu cơ bản của việc chữa tiêu chảy cấp. Nước sắc búp ổi và uống nước cháo gạo lức rang có thể đáp ứng tốt quá trình nầy. Ổi là một loại cây ăn quả quen thuộc. Hình ảnh “Cây ổi sau nhà” đã trở thành một biểu tượng đặc trưng cho miền quê Việt Nam. Cây ổi không chỉ che mát, tạo thêm nét đa dạng cho vườn cây ăn quả của gia đình mà còn là một nguồn dược liệu phong phú cho nhiều trường hợp cấp cứu khác nhau. Cây ổi còn được gọi là phan thạch lựu, tên khoa học Psidium guyjava L., thuộc họ Sim Myrtaceae. Ổi là mộ loại cây nhỡ, cao từ 3 đến 6 mét. Cành nhỏ có cạnh vuông. Lá mọc đối, hình bầu dục, có cuống ngắn, phiến lá có lông mịn ở mặt dưới. Hoa có màu trắng, mọc ra từ kẻ lá. Quả mọng, có phần vỏ quả dày ở phần ngoài. Ổi có nguồn gốc từ vùng nhiệt đới châu Mỹ, lan sang châu Á, châu Phi. Hiện nay, ở nước ta có nhiều loại ổi. Ổi mọc hoang ở khắp nơi từ vùng đồng bằng đến đồi núi. Ổi cũng thường được trồng để ăn quả. Nghiên cứu về thành phần dinh dưỡng của ổi cho biết quả ổi có hàm lượng các sinh tố A, C, acid béo omega 3, omega 6 và nhiều chất xơ[i]. Ổi là một trong những loại rau quả có tỷ lệ sinh tố C rất cao, mỗi 100g có thể có đến 486mg Sinh tố C[ii]. Sinh tố C tập trung cao nhất ở phần vỏ ngoài, càng gần lớp vỏ ngoài, lượng sinh tố càng cao. Do đó, khi ăn ổi, nên rửa sạch và ăn cả vỏ. Quả ổi là một nguồn thực phẩm ít calori nhưng giàu chất dinh dưỡng và có nhiều chất chống oxy hoá thuộc 2 nhóm carotenoids và polyphenols. Theo những nghiên cứu khoa học về những chất chống oxy hoá[iii], vị chua và chát trong nhiều loại rau quả, bao gồm lá ổi, quả ổi là do độ đậm đặc của những loại tanin có tính chống oxy hoá gây ra. Tương tự như quy luật màu càng sậm như vàng, tía, đỏ càng có nhiều chất chống oxy hoá, vị càng chát, càng đắng, càng chua độ tập trung của những chất nầy cũng càng nhiều. Ngoài sinh tố A, C, quả ổi còn có quercetin, một chất có tính chống oxy hoá cực mạnh có tác dụng kháng viêm, chống dị ứng trong nhiều chứng viêm nhiễm mãn tính như suyển, dị ứng, tim mạch, thấp khớp, lỡ loét, ung thư. Một tính chất quan trọng của ổi thường được sử dụng làm thuốc là tác dụng thu liễm, se da, co mạch, làm giảm sự xuất tiết và giảm sự kích thích ở màng ruột. Tác dụng nầy được dùng rộng rải trong nhiều chứng tiêu chảy, thổ tả hoặc kiết lỵ. Trong nhiều trường hợp rối loạn thuộc loại này, điều cơ bản là chống mất nước, giữ ấm người, bảo vệ khí hóa của Tỳ Vị. Búp ổi, lá ổi là một vị thuốc đáp ứng rất tốt cho yêu cầu se da, giảm xuất tiết và cả giảm kích thích để làm dịu các triệu chứng cấp. Uống thêm nước cháo gạo lức rang có thêm vài lát gừng nướng và một chút muối vừa bảo đảm yêu cầu bổ sung nước, vừa giữ ấm trung tiêu và kích thích tiêu hoá là những biện pháp đơn giản, ở trong tầm tay, nhưng có thể giải quyết được hầu hết các trường hợp. Kinh nghiệm dân gian nhiều nơi đã dùng lá ổi giã nát hoặc nước sắc lá ổi để làm thuốc sát trùng, chống nấm, chữa các trường hợp lở loét lâu lành, làm giảm sốt, chữa đau răng, chữa ho, viêm họng. Nghiên cứu của Trần thanh Lương và các cộng sự[iv] cho biết tác dụng chống nhiễm khuẩn và nhiễm nấm là do 2 hoạt chất Beta-caryophyllene và Alpha-caryophyllene. Ở Ấn Độ, người ta còn dùng nước sắc lá ổi để chữa viêm thận, động kinh. Có thể thấy hiệu quả chữa bệnh ở đây là do tác dụng tổng hợp của 3 yếu tố (1) thu liễm (2) sát trùng (3) kháng viêm. Theo y học cổ truyền, quả ổi có tính mát, vị ngọt, chua, hơi chát, không độc, có tác dụng sáp trường, chỉ tả, thường dùng để sát trùng, rửa vết thương, trị tiêu chảy. Chữa vết thương do chấn thương hoặc trùng, thú cắn. Búp ổi non nhai nát, đấp vào vết thương. Chữa vết loét lâu lành ở chân, tay. Búp ổi, lá ổi non khoảng 100g, sắc đặc, ngâm tay hoặc chân bị loét vào nước sắc lúc thuốc còn ấm. Mỗi ngày ngâm khoảng 2 hoặc 3 lần. Chữa đau răng hoặc vết lở ở miệng. Có thể dùng một trong 3 cách - Nhai hoặc giã nát búp ổi non xát nhẹ vào nướu hoặc vào chỗ lở. - Thêm một chút nước ấm và một tí muối vào khoảng 7 búp ổi non. Giã nát. Dùng một que tăm có bông gòn ở đầu thấm vào nước thuốc đã giã ra để lăn hoặc chà nhẹ vào nướu hoặc chổ lở. - Lá ổi non khoảng 100g, sắc đặc. Dùng nước sắc để súc miệng và ngậm vài phút trước khi nhả ra. Chữa ho, sốt, viêm họng. Lá ổi non 20g đến 40g phơi khô, sắc uống. Chữa tiêu chảy cấp. Búp ổi 20g, Vỏ măng cụt 20g, Gừng nướng 10g, Gạo rang 20g Sắc uống. Bách chiến tán chống dịch tiêu chảy cấp. Bách chiến tán là phương thuốc của Lương Y Lê Minh Xuân[v] để chữa những trường hợp tiêu chảy hoặc thổ tả do Tỳ Vị hư yếu gặp phải phong độc hoặc ăn phải thức ăn bị nhiễm khuẩn. Búp ổi 200g, Vỏ cây sung 500g, Vỏ quít 20g, Gừng già 100g, Hạt cau già 10g, Nhục đậu khấu 150g. Các vị thuốc xắt nhỏ, phơi khô, tán bột, phân vào những gói nhỏ, mỗi gói 6g. Người lớn dùng mỗi ngày 3 lần, mỗi lần một gói. Chữa tiểu đường loại 2. Phần vỏ của quả ổi có nhiều chất xơ, sinh tố C và những chất chống oxy hoá có tác dụng kháng viêm và ổn định đường huyết rất tốt cho các bệnh nhân bệnh tiểu đường loại 2. Không ăn phần ruột có nhiều hạt và chỉ số đường cao. Liều dùng trung bình 150g mỗi ngày. Người già có thể xắt nhỏ, xay và ép lấy nước uống. Tuy nhiên, nước ép sẽ mất bớt đi sinh tố và chất xơ. Chữa băng huyết. Quả ổi sao khô, đốt tồn tính, tán bột. Mỗi ngày dùng 2 lần, mỗi lần khoảng 8g. Lưu ý. Không dùng ổi cho những người đang bị táo bón. Ruột ổi có thể làm nhuận trường nhưng chất chát trong lá ổi và vỏ ổi có thể gây táo bón. Lương y VÕ HÀMô tả.
Dược tính.
Sau đây là một số cách sử dụng ổi phổ biến.
Copyright by www.NoniPowerful.com | Design By HD